Free Essay

Banking

In: Other Topics

Submitted By VANVUHA2002
Words 5137
Pages 21
Ngân hàng Nhà nước tính tỷ giá trung tâm theo phương thức nào?

Có 8 đồng tiền thế giới được đưa tham chiếu để tính tỷ giá trung tâm là: USD, EUR, NDT, Yên Nhật, Đô la Singapore, Won (Hàn Quốc), đô la Đài Loan, Bath (Thái Lan).

Cách tính tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo cách điều hành tỷ giá mới được thực hiện dựa trên phương thức: Tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chốt vào giờ đóng cửa phiên ngày hôm trước; Trên thị trường quốc tế, lấy giá từ 7h sáng của ngày công bố, chốt lấy giao dịch gần nhất lúc gần 7h.

“Sở dĩ NHNN lấy giá thế giới giao dịch gần nhất của lúc 7h ngày công bố vì trên thế giới thị trường tiền tệ không giống thị trường chứng khoán là đóng cửa xong nghỉ. Thực tế, trên thị trường tiền tệ khi ở thị trường châu Âu, giá EUR đóng cửa lúc khoảng 12h đêm của Việt Nam còn thị trường thị trường tài chính Mỹ ngừng giao dịch vào lúc 2h sáng theo giờ Việt Nam. Vì vậy, phải lấy bình quân gia quyền để tính vì nếu chỉ lấy giá lúc cuối giờ sẽ dẫn đến làm giá”, ông Bùi Quốc Dũng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN, giải thích.
Ông Dũng cho biết, với cách tính như vậy thì ra tỷ giá trung tâm ngày hôm nay là 21.896 đồng/USD.
Sử dụng 8 đồng tiền thế giới để tính tỷ giá trung tâm
Chiều nay, ngày 4/1, NHNN có cuộc họp báo giải thích về cách thức tính tỷ giá trung tâm theo cách điều hành mới. Theo đó, hàng ngày, NHNN sẽ công bố tỷ giá trung tâm trên website của mình.
Ông Dũng cho biết trên thế giới có nhiều cách tính tỷ giá tăng giảm. Ví dụ, Trung Quốc dựa vào giá hôm trước làm tham chiếu cho hôm sau. Cách tính này có nhược điểm, dựa theo ý chủ quan của 1 số TCTD lớn. Ngược lại có nhóm khác như Singapore dựa theo nhóm đồng tiền chỉnh thế giới, nhược điểm không phản ánh được nhu cầu trong nước.
“Còn với cơ chế, NHNN đã trung hòa được cả 2 phương pháp trên. NHNN lựa chọn tỷ giá bình quân gia quyền nhằm loại bỏ yếu tố đầu cơ, làm giá trên thị trường ngoại hối”, ông Dũng bình luận.
Theo Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ NHNN, cách tính tỷ giá trung tâm được thực hiện dựa trên 3 trụ cột là: Cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam; các cân đối kinh tế vĩ mô.
“Với cách tính như vậy vừa phản ánh biến động trong nước và quốc tế, vì thế thời gian tới có những hôm tỷ giá trong nước tăng cao nhưng nếu giá quốc tế theo xu hướng giảm thì tỷ giá trung tâm hôm đó có thể sẽ giảm”, ông Dũng nhấn mạnh.
Ông Dũng cho biết thêm khi tính toán để xem diễn biến 2015 có gì đặc biệt. “Qua tính toán cho thấy, tỷ giá 2015 chịu chi phối rất nhiều từ yếu tố tâm lý, đặc biệt yếu tố tâm lý diễn biến thị trường quốc tế và dự kiến điều chỉnh khoảng 5%. Trong trọng số của chúng tôi có ưu tiên đáng kể cho diễn biến quốc tế phản ánh tỷ giá trung tâm”, ông Dũng cho biết.
Ông Dũng cũng cho biết, có 8 đồng tiền thế giới được đưa tham chiếu để tính tỷ giá trung tâm là: USD, EUR, NDT, Yên Nhật, Đô la Singapore, Won (Hàn Quốc), đô la Đài Loan, Bath (Thái Lan).
“Đây là những đồng tiền có tỷ trọng đầu tư lớn nhất đối với Việt Nam. Là 8 đồng tiền chứ không phải nhiều hơn vì các đồng tiền khác của các nước còn lại tác động không nhiều nếu tính tỷ giá”, ông Dũng nhấn mạnh.
Vẫn còn biên độ dao động +/-3%
Cũng tại cuộc họp báo, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng quyết định của NHNN chỉ là về tỷ giá trung tâm, còn biên độ =/-3% vẫn thực hiện.
“Trên cơ sở tỷ giá trung tâm công bố hàng ngày trên trang thông tin điện tử NHNN thì các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ dựa trên cơ sở tỷ giá này để quyết định tỷ giá giao dịch với khách hàng của mình trong biên độ +/-3%”, bà Hồng nhấn mạnh.
Bà Hồng khẳng định chế độ tỷ giá của Việt Nam đã được xác định ở Pháp lệnh ngoại hối là thực hiện theo chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (thả nổi là linh hoạt hơn nhưng vẫn phải có quản lý của NHNN), phù hợp mục tiêu chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế vĩ mô.
“Mục tiêu chính sách tiền tệ và kinh tế vĩ mô đặt ra trong năm 2016 là tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Thống đốc cũng từng nêu định hướng và phương châm xuyên suốt của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại hối, nâng cao vị thế VND, đảm bảo phù hợp chính sách tiền tệ và kinh tế vĩ mô”, bà Hồng khẳng định.
Theo bà Hồng, với cách thức điều hành linh hoạt mới, NHNN với vai trò là cơ quan tham mưu cho Chính phủ về điều hành chính sách tiền tệ sẽ thực hiện các biện pháp và có yếu tố quản lý trong cách thức điều hành tỷ giá mới để đạt được mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Trước nhiều ý kiến quan ngại về cách thức điều hành tỷ giá mới sẽ tác động tới doanh nghiệp trong nước do bị động về biến động tỷ giá, ông Dũng nhấn mạnh, cơ chế tỷ giá mới biến động linh hoạt hơn thì cung cầu ngoại tệ tốt hơn thì TCTD sẽ cho vay nhiều hơn, mua bán tốt hơn.
“Vì mua bán tăng giảm hàng ngày nên tỷ giá so với cách điều hành cũ sẽ đỡ thay đổi mạnh hơn. Trước đây, có thể thị trường giao động rất là mạnh, khi điều chỉnh là 1%, 2% thì có thể sau một ngày đúng vào thời điểm điều chỉnh tỷ giá đấy thì doanh nghiệp có thể thua lỗ. Nhưng với các điều hành tỷ giá mới này thì mức điều chỉnh sẽ nhỏ hơn rất nhiều nên tác động tới doanh nghiệp cũng nhỏ hơn”, ông Dũng khẳng định.
Theo ông Dũng, cùng với cách thức tỷ giá này phối hợp với các công cụ bán kỳ hạn sẽ thúc đẩy cũng như khuyến khích các TCTD, doanh nghiệp phát triển thị trường ngoại hối thông qua công cụ phái sinh nhiều hơn.
Ông Dũng cũng cho hay khi NHNN phát đi thông tin sẽ điều hành tỷ giá theo cơ chế mới cũng như cách thức thực hiện thị trường phái sinh cho các TCTD từ ngày 31/12, thị trường đã có những diễn biến tích cực.
“Trước đây giao dịch kỳ hạn giữa các TCTD với các khách hàng thường xuyên dưới 10 triệu USD/ngày trên toàn thị trường thì những ngày này giao dịch kỳ hạn giữa các TCTD với khách hàng lên đến 200 triệu USD/ngày, thậm chí có ngày lên 400 triệu USD/ngày. Theo đó, doanh nghiệp cũng sử dụng nhiều hơn công cụ phái sinh, giúp bảo hiểm tỷ giá tốt hơn cho doanh nghiệp”, ông Dũng cho biết.
Ông Dũng cho biết thêm, cùng với biện pháp xác định tỷ giá trung tâm, NHNN cũng thay đổi cách thức giao dịch với NHTM theo hợp đồng phái sinh, thay cho hợp đồng giao ngay trước đây.
Cụ thể, nếu NHTM muốn mua ngoại tệ, NHNN sẽ bán cho một hợp đồng phái sinh với giá bán cao hơn nhất định, ví dụ 1% trong 3 tháng. Thông qua hợp đồng này, NHNN gửi thông điệp về giới hạn biến động tỷ giá tới NHTM.
Các NHTM chủ động thực hiện giao dịch với đối tác và được hủy ngang giữa chừng để chủ động mua ngoại tệ trên thị trường khi giá trên thị trường tốt hơn giá bán của NHNN. Tuy nhiên, NHNN đảm bảo cung cấp đủ ngoại tệ, là người bán cuối cùng cho NHTM.

Cơ sở mơ hồ khiến cách tính tỷ giá mới rất khó minh bạch
Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa thể trả lời rõ câu hỏi: Các tác động của cơ chế tỷ giá mới tích cực hay tiêu cực. Bởi nó ít phụ thuộc vào cơ chế, mà phụ thuộc vào cách NHNN sẽ vận dụng cơ chế mới như thế nào. * TS.Nguyễn Đức Độ: Chính sách tỷ giá mới sẽ không ảnh hưởng nhiều tới lạm phát * Cơ chế điều hành tỷ giá mới: NHNN bán USD phái sinh cho NHTM * CEO Vietinbank: Cơ chế tỷ giá mới sẽ tác động tích cực đến doanh nghiệp
Ngày 31/12/2015 vừa qua, Ngân hàng nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định về cơ chế điều hành tỷ giá mới với tên gọi: Tỷ giá trung tâm.
Đây là một động thái được đánh giá là rất khôn ngoan của NHNN. Mặc dù không khác về bản chất, nhưng cơ chế tỷ giá hằng ngày này sẽ giúp NHNN chủ động, linh hoạt hơn trong điều hành tỷ giá.
Tuy nhiên, bài viết dưới đây sẽ giải đáp những thắc mắc quan trọng trong cơ chế điều hành tỷ giá mới của NHNN.
Cơ chế tỷ giá trung tâm thực chất là gì?
Cơ chế tỷ giá mới thực chất là việc NHNN công bố tỷ giá hàng ngày chứ không phải trong thời gian dài như trước đây.
Trước đây, NHNN công bố tỷ giá, cho phép giao dịch trong biên độ +/-3%, và tỷ giá được công bố đó cố định cho đến khi có thông báo sau. Còn thông báo sau lúc nào thì không ai biết.
Trong 5 năm qua, tần suất điều chỉnh tỷ giá của NHNN vào khoảng 1-3 lần/năm, mỗi lần vài phần trăm. Nhìn vào đồ thị dưới, ta thấy tần suất điều chỉnh tỷ giá của NHNN có xu hướng tăng, còn biên độ điều chỉnh lại giảm.

Theo cơ chế mới, NHNN sẽ điều hành tỷ giá từng ngày chứ không phải lâu lâu mới thay đổi như trước đây.
Đầu tiên phải khẳng định, đây không phải là cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Tức là doanh nghiệp và ngân hàng vẫn phải giao dịch trong biên độ cho phép chứ không phải được tự do thỏa thuận.
Cơ chế này sẽ có tác động như thế nào? Liệu còn có hiện tượng qua một đêm mà tỷ giá sẽ thay đổi đột ngột nữa không?
Về lý thuyết, NHNN vẫn có quyền công bố tỷ giá trung tâm ngày hôm nay chênh lệch vài điểm phần trăm so với ngày hôm qua. Không có quy định nào ngăn cản NHNN làm điều này, và NHNN cũng không cam kết mức biến động tỷ giá tối đa mà mình công bố.
Tuy nhiên, cả xã hội ngầm hiểu với nhau rằng, sẽ không còn chuyện tỷ giá biến động mạnh qua một đêm nữa. Bởi theo cơ chế mới, NHNN sẽ giãn tiến độ, biến một cú nhảy lớn đó thành nhiều lần điều chỉnh nhỏ cho mỗi ngày.
Đối tượng nào quan tâm đến tỷ giá trung tâm nhất?
Người quan tâm nhiều nhất đến tỷ giá, có lẽ là các doanh nghiệp có quan hệ thương mại với nước ngoài, đặc biệt là các nhà xuất nhập khẩu.
Trước đây, khi doanh nghiệp ký hợp đồng với nước ngoài, họ luôn phải nhìn ngó và phán đoán tỷ giá sẽ thay đổi như thế nào vào thời điểm thanh toán. Nếu doanh nghiệp thấy có tín hiệu cho thấy NHNN sắp điều chỉnh tỷ giá thì sẽ là rủi ro lớn đối với họ.
Doanh nghiệp xuất khẩu thì mong NHNN điều chỉnh tỷ giá càng sớm càng tốt, còn doanh nghiệp nhập khẩu thì lại muốn trì hoãn.Làm ăn kinh doanh vào những thời điểm này giống như đánh bạc, hên xui.
Với cơ chế tỷ giá mới, các lo toan này có thể sẽ được xoa dịu. Đương nhiên, doanh nghiệp cũng vẫn không thể nào biết được chính xác tỷ giá vào một thời điểm trong tương lai, nhưng dự đoán tỷ giá với sai số không quá lớn thì doanh nghiệp có thể làm được.
Tuy nhiên, lại có một câu hỏi lớn hơn đối với các doanh nghiệp: Mặc dù phán đoán được tỷ giá đấy, nhưng liệu có thể nảy sinh tình trạng khó khăn trong việc đổi tiền? Bởi rõ ràng, nếu ai cũng phán đoán được tỷ giá của ngày hôm sau thì chẳng còn ai muốn bán đồng tiền sẽ tăng giá.
Để tránh được tình trạng này, NHNN sẽ phải vất vả hơn trong việc áp dụng nghiệp vụ thị trường mở mua bán ngoại tệ.
Tại sao lại điều chỉnh hôm nay mà không phải hôm qua?
Mỗi lần NHNN điều chỉnh tỷ giá trước đây thường kéo theo rất nhiều bình luận của các doanh nghiệp và giới quan sát, người khen cũng nhiều mà kẻ chê cũng lắm. Áp lực giải trình của NHNN trong những lần như vậy rất vất vả.
Tại sao lại điều chỉnh hôm nay mà không phải hôm qua? Tại sao điều chỉnh 1% mà không phải là 1,5%? Những thời điểm khác thì NHNN không chịu áp lực này. Thay vì phương pháp no dồn đói góp như vậy, nay thì áp lực dư luận cũng theo đó mà được giãn đều ra.
Cơ chế tỷ giá mới có minh bạch hơn?
Rất tiếc là không. Ngày 04/01/2016, cùng ngày thông báo tỷ giá trung tâm lần đầu tiên, NHNN tổ chức họp báo để giải trình rõ hơn về cơ chế tỷ giá mới này.
Mặc dù vị đại diện NHNN đã thuyết minh rất chi tiết phương pháp tính tỷ giá trung tâm với phương pháp bình quân gia quyền và giỏ tiền tệ. Nhưng đó mới chỉ là hai trong số ba cơ sở tính tỷ giá mà NHNN đưa ra.
Cơ sở thứ ba, rất mơ hồ, được gọi tên là: “Các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ”.
Không ai biết chính xác các mục tiêu này là gì, và định lượng nó ra sao. Liệu nó sẽ làm tỷ giá lệch đi 10 đồng, 50 đồng hay vài trăm đồng so với cách tính mà NHNN đang đưa ra? Câu hỏi này chưa có lời giải.
Đó là chưa kể đến việc liệu còn có “cơ sở” nào khác ngoài ba cơ sở đó, mà trong thông cáo của mình NHNN không muốn nhắc đến?
"Tay chơi" lớn
Ngay sau khi NHNN công bố tỷ giá trung tâm ngày 4/1 tăng 6 đồng so với tỷ giá trong tháng 12/2015, giá đô la trên thị trường giao dịch tại các ngân hàng đều tăng mạnh. Hiện tượng này phần nào có thể được lý giải do tâm lý của các bên chưa quen với cách điều hành tỷ giá mới.
Đây không phải là hiện tượng đáng ngại vì sẽ nhanh chóng kết thúc khi các bên quen với cách điều hành mới của NHNN.
Các doanh nghiệp và NHTM luôn biết rằng trên thị trường ngoại hối còn có một người chơi lớn là NHNN. Ông lớn này trước đây ít xuất hiện, nhưng đã xuất hiện lần nào sẽ tác động lớn lần đó. Nay thì ông lớn tuyên bố rằng ngày nào cũng sẽ tham gia.
Rõ ràng điều này khiến cho các bên còn lại trên thị trường lo lắng. Không lo lắng sao được khi không rõ ông lớn đó sẽ hành xử thế nào.?
Quả thật, vào thời điểm này, chưa ai có thể khẳng định cơ chế tỷ giá mới là tốt hay không tốt cho thị trường. Muốn đánh giá cần phải quan sát cách chơi của NHNN trong việc công bố tỷ giá hàng ngày.
MUA BÁN KỲ HẠN TY GIÁ GIỮA NHNN VA NHTM
Dân kinh doanh vốn của các ngân hàng thương mại rất nhạy. Nước đi tỷ giá kỳ hạn Ngân hàng Nhà nước ngắm đến cuối quý 1/2016 cao hơn 1% so với 31/12/2015.

Họ bắt tín hiệu ngay, chuyển đổi và nắm VND chí ít cũng thu được cao hơn hẳn mức 1%, theo lãi suất hiện hành. Trong khi đó, cho vay ngoại tệ gần như đã bị cắt bỏ phần lớn.

Tuần cuối cùng trước kỳ nghỉ Tết Bính Thân, lãi suất VND vọt lên mức cao nhất 3 năm qua, các kỳ hạn ngắn lên tới 5,8-6%/năm. Ngược chiều, giá USD liên tục rơi sâu và nhanh trên thị trường liên ngân hàng; mức giảm so với cuối 2015 lên tới khoảng 1,4-1,5%.

Đà giảm của tỷ giá chững lại khi Ngân hàng Nhà nước chặn giá mua vào 22.300 VND ngày 1/2/2016.

Chỉ vẻn vẹn có mấy ngày trước kỳ nghỉ Tết, một lượng lớn ngoại tệ chảy ra và được Ngân hàng Nhà nước mua vào để bù đắp lại dự trữ ngoại hối sau nửa năm bị bào mòn đáng kể.

400 triệu, rồi 1 tỷ USD, rồi nhiều hơn thế nữa… là lượng ngoại tệ mua được trong ít ngày đó.

Nhìn lại, những năm gần đây, trước và sau Tết Nguyên đán, tỷ giá USD/VND thường rơi mạnh và là dịp Ngân hàng Nhà nước giăng lưới mua vào. Nhưng năm nay, có khác biệt là cơ chế tỷ giá mới đã vận hành.

Cơ chế đó, linh hồn không hẳn là tỷ giá trung tâm. Thị trường có thể nhìn vào nó, nhưng kỳ vọng không hẳn đặt ở đó, vì nó chỉ phát đi thay đổi hàng ngày. Kỳ vọng thường đòi hỏi cái nhìn xa hơn.

Vậy nên, linh hồn của cơ chế tỷ giá có lẽ nằm ở cơ chế giao dịch kỳ hạn mà Ngân hàng Nhà nước đã làm. Nó xác định một mốc kỳ vọng cho ba tháng tới tỷ giá được bán/chặn ở mức đó, “tay to” là Ngân hàng Nhà nước bán. Kỳ vọng, niềm tin của thị trường theo đó là có cơ sở.

Ông Bùi Quốc Dũng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nói rằng, cơ chế giao dịch kỳ hạn là một biện pháp dùng cung ngoại tệ tương lai để bình ổn cho hiện tại.

Điểm sáng tạo là, nguồn cung đó không nhất thiết phải bán ra một cách đầy đủ. Nó là cam kết để thị trường tin và tự dưỡng được. Bởi khác biệt so với các giao dịch kỳ hạn thông thường là cơ chế cho phép các ngân hàng thương mại được hủy ngang với chi phí không đáng kể, thay vì phải giao dịch đối ứng.

Khi thị trường tự dưỡng được, Ngân hàng Nhà nước không nhất thiết phải bán ra ngoại tệ khi đến hạn. Thực tế trước kỳ nghỉ Tết, một loạt ngân hàng thương mại đã hủy ngang hợp đồng mua kỳ hạn.

Nhìn lại tỷ giá 2015 và dự báo 2016
Thứ Hai, 4/1/2016 13:00
(BĐT) - Dự báo năm 2016 tiền VND sẽ mất giá ít nhất từ 3% - 4% trong bối cảnh như hiện nay. Nhưng có thể cũng có những tình huống sẽ nằm ngoài kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Do vậy, NHNN cần có những định hướng để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh.

Tỷ trọng thanh toán quốc tế trên 90% là USD nên tác động của đồng tiền này là rất lớn. Ảnh: Lê Tiên
Nhìn lại tỷ giá 2015
Với kết quả của năm 2014, NHNN tiếp tục đặt chỉ tiêu không để tiền đồng mất giá quá 2% so với USD trong năm 2015. Tuy nhiên, năm 2015 đã khác so với năm 2014 khi mà nền kinh tế trong nước mặc dù tiếp tục có sự phục hồi nhưng đi kèm với đó thâm hụt cán cân thương mại tăng trở lại, đặc biệt là thâm hụt trầm trọng với láng giềng Trung Quốc cũng là đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu.
Do nền sản xuất trong nước vẫn phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu từ Trung Quốc, nên trong năm 2015, ước tính nhập siêu của Việt Nam với thị trường này lên tới 32,3 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm trước. Nhập siêu cả nước 3,2 tỷ USD, đã quay trở lại sau 3 năm xuất siêu. Thâm hụt thương mại đã làm giảm thặng dư cán cân thanh toán tổng thể so với các năm trước. Điều này đồng nghĩa là nguồn cung ngoại tệ không dồi dào như trước, trong khi áp lực gia tăng dự trữ bắt buộc của NHNN ngày càng lớn do sự tăng trưởng của nhập khẩu. Kết quả là cán cân cung cầu ngoại tệ đã không còn cân bằng mà ngày càng gây áp lực phá giá lên tiền đồng.
Diễn biến kinh tế thế giới năm 2015 cũng rất bất lợi đối với việc ổn định tỷ giá của Việt Nam, đặc biệt là các diễn biến tại các nền kinh tế ở châu Âu, Mỹ và Trung Quốc. Đồng Euro tiếp tục mất giá so với USD. Kinh tế Mỹ có đà tăng trưởng mạnh mẽ, thị trường việc làm tiếp tục được cải thiện về tỷ lệ thất nghiệp. Trung Quốc, những dấu hiệu về suy giảm tăng trưởng đã xuất hiện những năm gần đây nhưng trong năm 2015 vấn đề trở nên trầm trọng hơn. Kinh tế Trung Quốc yếu hơn cộng với việc Ngân hàng trung ương Trung Quốc thay đổi chính sách tỷ giá từ cố định sang thả nổi có kiểm soát đã làm cho đồng Nhân dân tệ (CNY) bị mất giá 3% so với đầu năm 2015.
Như vậy, có thể thấy rằng, những biến động lớn của các nền kinh tế hàng đầu thế giới đã tác động xấu đến giá trị của tiền đồng trong năm 2015, tuy nhiên những biến động này đã không được dự báo một cách đầy đủ và chính xác để tạo sự chủ động trong chính sách tỷ giá. Kết quả là cam kết tỷ giá của NHNN đã không được giữ vững, gây nên những biến động bất ngờ trên thị trường ngoại tệ, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm giảm niềm tin của thị trường đối với chính sách của NHNN.
Từ những điều nêu trên cho thấy, về chính sách tỷ giá vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề cần phải xử lý cả về ngắn hạn và dài hạn. Đến cuối tháng 7/2015, cam kết kiểm soát biên độ tỷ giá tăng không quá 2% được NHNN khẳng định nhiều lần, cho dù kể từ ngày 7/5 đã chính thức nới hết room cho phép. Nhưng, vào 11/8, mọi thứ đã đảo lộn bất ngờ khi Trung Quốc phá giá CNY. Chỉ trong vòng một tuần lễ, NHNN đã liên tiếp phá giá tiền đồng bằng động tác kép, vừa nới biên độ, vừa nâng tỷ giá điều hành, đưa tỷ lệ phá giá cả năm vọt lên đến 5%. Đây là tình huống hoàn toàn nằm ngoài dự báo, được NHNN lý giải bởi sức ép từ việc phá giá mạnh CNY và khả năng tăng lãi suất của FED.
Không có lý do gì bảo đảm rằng mặt bằng lãi suất trong thời gian tới sẽ tiếp tục duy trì sự ổn định như trước trong bối cảnh USD sẽ nâng lãi suất vào cuối năm đe dọa giá trị của VND.
Cái giá phải trả cho đợt phá giá tiền tệ lần này là rất đáng kể đối với kinh tế vĩ mô: Nợ công USD đang có xu hướng tăng nhanh. Hiện tượng xuất thô, nhập tinh tiếp tục kéo dài, lợi thế so sánh cạnh tranh thường ở thế thua thiệt. Năng lực xuất siêu bị hạn chế, riêng những tháng đầu năm lĩnh vực nông thủy sản giảm khá mạnh. Nhập siêu chính ngạch không đáng lo bằng khoản nhập siêu tiểu ngạch khổng lồ từ Trung Quốc, sau khi CNY bị phá giá mạnh sẽ càng được kích hoạt, hàng hóa thẩm lậu tràn vào thị trường nội địa Việt Nam.
Tỷ giá năm 2016 sẽ tiếp tục điều chỉnh ít nhất 3%-4%
Việc CNY được đưa vào giỏ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) vào tháng 10/2016 và FED tăng lãi suất vào giữa tháng 12/2015 được dự báo sẽ tác động đến tỷ giá VND/USD.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay thì những tác động của USD vẫn mang ảnh hưởng nhiều hơn vì đa phần tỷ trọng thanh toán quốc tế vẫn trên 90% là USD.
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam nên những biến động của đồng CNY cũng có tác động nhất định lên VND. Đây là 2 yếu tố tác động đến VND trong thời gian qua và thời gian sắp tới.
Xu thế chung của 2016 làkhả năng biến động của các đồng tiền vẫn tiếp tục nhiều như năm 2015. Chúng ta nhìn thấy chính sách của các ngân hàng trung ương các nước đang ngược chiều nhau, Mỹ đã tăng lãi suất lên trong tháng 12 năm nay và sẽ tiếp tục tăng trong năm 2016, còn ngân hàng trung ương châu Âu lại hạ lãi suất xuống, Nhật có thể vẫn tiếp tục theo chính sách nới lỏng tiền tệ, Trung Quốc trong thời gian tới không biết sẽ thế nào… Những chính sách ngược chiều và đối lập nhau sẽ tạo ra những chuyển động trên thị trường ngoại hối trong thời gian sắp tới.
Tỷ giá là một lĩnh vực rất phức tạp, đã đến lúc phải thay đổi tư duy điều hành để chủ động bắt nhịp và ứng phó với sự biến động nhanh chóng của thị trường trong nước và thế giới.
PGS.TS. Ngô Trí Long, Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá thuộc Bộ Tài chính
Trung Quốc đang trong quá trình tiến tới thả nổi CNY, do đó, từ nay đến tháng 10/2016, CNY sẽ tiếp tục bị phá giá. Mức độ phá giá bao nhiêu khó dự báo nhưng dự đoán khoảng 3%. Nếu CNY tiếp tục phá giá trong khi tỷ giá VND tiếp tục được neo giữ so với USD thì chúng ta sẽ bị bất lợi trong xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, đồng thời sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng từ Trung Quốc về Việt Nam, từ đó nhập siêu sẽ tăng và tạo áp lực nhất định lên tỷ giá, buộc NHNN có thể phải điều chỉnh tỷ giá VND/USD. Mức điều chỉnh ít nhất cũng tương tự với mức độ phá giá của CNY, tức là ít nhất 3%.
Sự kiện phá giá tiền tệ dồn dập ở một loạt quốc gia, trong đó có Việt Nam, một lần nữa cho thấy vai trò mạnh mẽ của quan hệ cung cầu thị trường và khả năng thao túng của các đồng tiền như USD, Euro, CNY... Trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng, thế lực này ngày càng trở nên khó dự báo, không dễ dàng ứng phó, kể cả không thể cưỡng lại được nếu chúng ta không chủ động thay đổi mô hình quản lý theo hướng mềm dẻo, linh hoạt, theo tín hiệu và nguyên tắc thị trường.
NHNN cần xem xét nghiên cứu lại cơ chế điều hành tỷ giá trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Nếu vẫn tiếp tục tư duy và lề lối cứng nhắc như hiện nay thì chắc chắn NHNN sẽ phải đối mặt với nhiều lúng túng, kể cả rủi ro về lòng tin khi đưa ra những tuyên bố cam kết điều hành dễ dàng bị thị trường loại bỏ. Cơ quan chức năng không nên ảo tưởng về những nguồn lực dự trữ hiện có để phòng vệ cho sự ổn định tỷ giá, với dự trữ ngoại tệ khoảng 30 tỷ USD chưa đáng kể (so với Malaysia khoảng 300 tỷ USD). Nếu xẩy ra những sự cố chiến tranh tiền tệ thế giới, thì khoản dự trữ đó không có nghĩa lý gì.
Chủ trương của Chính phủ rất rõ ràng là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô. Bởi vì nếu nhìn vào năm 2015 các đồng tiền trong khu vực phá giá rất lớn như đồng Ringgit (Malaysia), đồng Ruby (Indonesia)…, nhưng nếu Việt Nam cũng chấp nhận như vậy thì nó gây bất ổn rất lớn trên thị trường tài chính Việt Nam. Vì bản thân các doanh nghiệp và người dân Việt Nam chưa có sự chuẩn bị, các công cụ chống rủi ro chưa được sử dụng nhiều.
Tôi nghĩ là có những tình huống sẽ nằm ngoài kiểm soát của NHNN. Do vậy, NHNN có thể có những định hướng để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh trong bối cảnh thị trường không có biến động mạnh. Đây cũng là mục tiêu mà NHNN đưa ra để duy trình sự ổn định của thị trường tài chính Việt Nam.…...

Similar Documents

Premium Essay

Banking

...distill down to some very real and definable goals and practices. Various financial services adopted by green business are banks, credit card companies, insurance companies, consumer finance companies, stock brokerages and investment funds. Banking sector for great banking has its own significance. Green banking means promoting environmental friendly practices and reducing carbon footprint from banking activities. To aid the reduction of external carbon emission, bank should finance green technology and pollution reducing projects. The present paper aims to highlight Indian initiatives by various banks adopting green banking in India. Further, an attempt has been made to enlist certain strategies of adopting green banking. Defining green banking is relatively easy. It means promoting environmental-friendly practices and reducing your carbon footprint from your banking activities. This comes in many forms. Using online banking instead of branch banking. Paying bills online instead of mailing them. Opening up CDs and money market accounts at online banks, instead of large multi-branch banks. Or finding the local bank in your area that is taking the biggest steps to support local green initiatives. Any combination of the above personal banking practices can help the environment. So this leads to the question, which banks are green. In general, online banks and smaller community banks have better track record than larger banks. For instance, take a look at the banks that......

Words: 611 - Pages: 3

Premium Essay

Banking

...Executive Summary Mobile Banking (Vishavjit Singh & gurjeet singh brar) Mobile devices have increasingly become tools that consumers use for banking, payments, budgeting, and shopping. The use of mobile phones in order to effectuate banking transactions is bound to increase in a significant way in the near future. This growth in mobile financial services not only depends on technological advances, but also on consumer confidence in the provided services. Almost every person has a cell phone now and knows how to use it. In our fast-paced, ever-connected world, mobile technology is an attractive if not essential feature that banks can offer their customers. But mobile banking does not merely benefit banking customers. In terms of customer satisfaction, service costs, and security, mobile technology benefits banking institutions themselves. Customers are giving more portion of their lives to their cell phones. So financial institutions are adopting Mobile banking to fulfill customer’s needs via mobile phone. This would both be benefit for customers and financial institutions. * It would help banks provide their customers with their regular services online. * It would save the money and time of the banks. * It’s a faster and cheaper way of communication for banks. * Mobile phones can be taken anywhere so the banking can be done by the customer anytime and anywhere. Problems: Well there are few problems using the mobile banking. One has to keep the......

Words: 333 - Pages: 2

Premium Essay

Banking

...  Role of Banks for developing the Economy of Bangladesh Role of Banks for developing the Economy of Bangladesh Introduction Banks over the years, have become a significant aspect of an economy. With the on going financial depression, the position of banks have become all the more important in the course of working of the money market and hence the economy of a nation. The banking sector forming a portion of the financial sector primarily works as a financial intermediary generating money supply. From the different macro economic models , banks have been found to be a part of the supply side of the economy . However, over time banks have transformed from merely money generating organizations to a multi tasking entity. In this paper, we shall deal with the role of banks in the context of the world economy as well as the Bangladesh economy . The first section will illustrate the functions of a bank along with its classification. In the second section, we shall discuss the role of a banks as a major component of the service sector rendering to the economy as a whole. In the third section, we would like to empirically validate our hypothesis with a comprehensive data analysis. The recession in the US market and the global meltdown termed as Global recession have engulfed complete world economy with a varying degree of recessional impact. World over the impact has diversified and its impact can be observed from the very fact of falling Stock market,......

Words: 6647 - Pages: 27

Premium Essay

Banking

...A PROJECT REPORT ON FINANCIAL SERVICES OF BANKS Submitted to University of Mumbai in Partial fulfillment Of the requirement of the Degree of B.Com ³BANKING & INSURANCE´ Under guidance of PROF. RUEEN PATEL VPM¶S K.G Joshi College of Arts N.G Bedekar College of Commerce Thane (E) Academic Year: 2010-11 BYJEMINI.J.PATIL ACKNOWLEDGEMENT In completing this project I am deeply conscious of my debt to all those, without whose warm support, enragement & guidance this project was not possible to complete. I am specially greatful to Prof Rueen Patel my guide to this project, She actually gave the life to this project and guidance of my parents & friends this project took shape. They also provided me much needed criticism & encouragement. Jemini Patil DECLARATION I am Jemini J. Patil studying in T.Y.Banking & Insurance hereby declare that I have done a project on ³Financial Services provided by Banks´. As required by the university rules, I state that the work presented in this thesis is original in nature and to the best my knowledge, has not been submitted so far to any other university. Whenever references have been made to the work of others, it is clearly indicated in the sources of information in references. Student (Jemini. J. Patil) Place: Thane Date: October, 2010 EXECUTIVE SUMMARY Banks are the Financial Institution which satisfies the individual & group goals with proper systems of rules, regulations, policies, services, procedures &......

Words: 11527 - Pages: 47

Premium Essay

Banking

...E- Banking System in Pakistan ` E- Banking System in Pakistan Written by, Muhammad Rahimuddin rud777@hotmail.com 691205 0694 Syed Asif Abbas Bukhari asifbukhari82@hotmail.com 720512-1234 Supervised by Eva. Wittbom School of Management Blekinge Institute of Technology Ronneby, Sweden Thesis for the Master‟s degree in Business Administration, Spring-2010 Blekinge Institute of Technology, Ronneby, SWEDEN Thesis for the Master‟s degree in Business Administration Spring, 2010 I E- Banking System in Pakistan ABSTRACT Our this research work is based on the E-banking technology in which customers can access more accurate, quicker and rapid banking services from the computerized banking system. This system has also been adopted by the international banks as well as by the local banks in Pakistan to give efficient services to their elite customers. The purpose of our research work is carried out to unlock the significance that Pakistani banks are connected with this type of e-banking technology that is being implemented by the banks for providing the electronic services to the customers and in what extent this technology is relevant to customers. This research work will also help to determine whether the ebanking services are more efficient, accurate and rapid banking services. Thesis for the Master‟s degree in Business Administration, Spring-2010 Blekinge Institute of Technology, Ronneby, SWEDEN II E- Banking System in......

Words: 18788 - Pages: 76

Premium Essay

Banking

...H. Gibson, J. Goddard, P. Molyneux and G. Tavlas, as well as participants of the 3rd Annual Conference of the Hellenic Finance and Accounting Association (December 2004, Athens) for very helpful comments. The views expressed in this paper do not necessarily reflect those of the Bank of Greece. Correspondence: Panayiotis P. Athanasoglou, Economic Research Department, Bank of Greece, 21 E. Venizelos Ave., 102 50 Athens, Greece, Tel. +30210-320 2449 Email: pathanasoglou@bankofgreece. 1. Introduction During the last two decades the banking sector has experienced worldwide major transformations in its operating environment. Both external and domestic factors have affected its structure and performance. Despite the increased trend toward bank disintermediation observed in many countries, the role of banks remains central in financing economic activity in general and different segments of the market in particular. A sound and profitable banking sector is better able to withstand negative shocks and contribute to the stability of the financial system. Therefore, the determinants of bank performance have attracted the interest of academic research as well as of bank management, financial markets and bank supervisors. The majority of studies on bank profitability, such as Short (1979), Bourke (1989), Molyneux and Thornton (1992), Demirguc-Kunt and Huizinga (2000) and Goddard et al. (2004), use linear models to estimate the impact of various factors that may be important in......

Words: 11509 - Pages: 47

Premium Essay

Banking

...days in the case of bills purchased and discounted, 4. Interest and/ or installment of principal remains overdue for two harvest seasons but for a period not exceeding two and half years in the case of an advance granted for agricultural purpose. NPA represent bad loans, the borrowers of which failed to satisfy their repayment obligations. Michael (2006) emphasized that NPA in loan portfolio affect operational efficiency which in turn affects profitability, liquidity and solvency position of banks. Non-Performing Assets (NPAs) of the Indian banking sector have been rising in 2011-12, reached at 2.9% from 2.4% in 2008-09. NPA represent bad loans, the borrowers of which failed to satisfy their repayment obligations. Michael (2006) emphasized that NPA in loan portfolio affect operational efficiency which in turn affects profitability, liquidity and solvency position of banks. Non-Performing Assets (NPAs) of the Indian banking sector have been rising in 2011-12, reached at 2.9% from 2.4% in 2008-09....

Words: 302 - Pages: 2

Free Essay

Banking

...Lichtenstein & Williamson: Consumer Adoption of Internet Banking UNDERSTANDING CONSUMER ADOPTION OF INTERNET BANKING: AN INTERPRETIVE STUDY IN THE AUSTRALIAN BANKING CONTEXT Sharman Lichtenstein Deakin University, Australia sharman.lichtenstein@deakin.edu.au Kirsty Williamson Monash University and Charles Sturt University, Australia kirsty.williamson@sims.monash.edu.au ABSTRACT This paper reports key findings from an interpretive study of Australian banking consumer experiences with the adoption of internet banking. The paper provides an understanding of how and why specific factors affect the consumer decision whether or not to bank on the internet, in the Australian context. A theoretical framework is provided that conceptualizes and links consumer-oriented issues influencing adoption of internet banking. The paper also provides a set of recommendations for Australian banks. Specifically, the findings suggest that convenience is the main motivator for consumers to bank on the internet, while there is a range of other influential factors that may be modulated by banks. The findings also highlight increasing risk acceptance by consumers in regard to internetbased services and the growing importance of offering deep levels of consumer support for such services. Gender differences are also highlighted. Finally, the paper suggests that banks will be better able to manage consumer experiences with moving to internet banking if they understand that such experiences involve......

Words: 12503 - Pages: 51

Premium Essay

Banking

... “Internet banking enables bank customers to handle account management and perform account transactions directly with the bank through the internet.  This is also known as internet banking. Online banking has made personal and business banking faster, more efficient and safer”. Every service offered by any company or institute have its own advantages and disadvantages. Same here internet banking is a service which is offered by banks. Its disadvantages are given as below: Advantages of Internet BankingThere are plenty of perks offered by banks to customers who adopt internet banking over the traditional visit physically to the nearest branch office. Convenience: This is the single most important benefits that outweigh any shortcoming of internet banking. Making transactions and payments right from the comfort of home or office at the click of a button without even having to step out is a facility none would like to forego. Keeping a track of accounts through the internet is much faster and convenient as compared to going to the bank for the same. Even non transactional facilities like ordering check books online, updating accounts, enquiring about interest rates of various financial products etc become much simpler on the internet. Better Rates: The banks stand to gain significantly by the use of internet banking as it implies lesser physical effort from their end. The need to acquire larger spaces for offices and employ more staff to deal with the customers is......

Words: 1394 - Pages: 6

Free Essay

Banking

...RISK MANAGEMENT DEFINITION OF RISK: 1. Risk in finance is defined in terms of the variability of actual returns on an investment, around an expected return, even when those returns represent positive outcomes. 2. The decisions on how much risk to take and what type of risks to take are critical to the success of the business. 3. The essence of good management is making the right choices when it comes to dealing with different risks. 4. In banking, the risk is the possibility that a borrower or counterparty will fail to meet its obligations in accordance with the agreed terms, both in terms of time and quantity. 5. Risk does not come alone – the default of one firm may cripple affiliated firms such as suppliers, customers and banks. RISK MANAGEMENT: 1. Risk Management is a planned method of dealing with the potential loss or damage. It is an ongoing process of risk appraisal through various methods and tools. 2. Risk Management involves not only to protect oneself against some risks but also to decide which risks are to be exploited and how to exploit them. 3. Risk Management covers credit decision making, performance assessment, pricing, capital computation, provisioning etc. 4. Risk Management covers the following: a. It assesses what could go wrong b. It determines which risks are important to be dealt with c. It implements strategies to deal with those risks. 5. Risk Management is not – ...

Words: 5577 - Pages: 23

Free Essay

Banking

...June 02, 2014 MY Banking Sector SECTOR RESEARCH | Malaysia NEUTRAL Analyst Desmond Ch’ng, ACA (603) 2297 8680 (unchanged) Loan growth slows to 10% YoY    Industry loan growth moderated to 10.0% YoY in Apr 2014 from 10.2% YoY in Mar 2014. All HH loan segments continued to register softer growth except residential property. Still NEUTRAL on the sector; BUYs are AMMB, HL Bank and HLFG. MPHB Capital is also a BUY with a TP of MYR2.42. desmond.chng@maybank-ib.com What’s New Industry loan growth was 10.0% YoY in Apr 2014, with household (HH) loans expanding at a more moderate 11.6% YoY in Apr 2014 vs 11.7% YoY in Mar 2014, while non-HH loan growth was a slower 7.9% YoY vs 8.3% YoY in Mar 2014. Positively, cumulative PDS issuances to date are 4.5% higher versus the same period last year. Also positive is the fact that industry fundamentals remain solid, with an all-time low gross NPL ratio of 1.8%, strong loan loss coverage at almost 105%, stable interest spreads and a stable loan/deposit ratio at 85%. What’s Our View Banks have become more selective in their approval of residential property loans but demand is likely to hold up due to: (i) expectations of higher property prices post GST; and (ii) prevailing negative real rates that will encourage investors to seek an inflation hedge. Whether this will prompt further property measures remains to be seen. Overall loan approval rates continue to soften while application trends have yet to see a meaningful...

Words: 7677 - Pages: 31

Premium Essay

Banking

...Assistant Banking Center Manager at Gessner and Kempwood Job Apply now » Date: May 24, 2012 Location: Houston, TX, US Assistant Banking Center Manager at Gessner and Kempwood-1201185 Assistant Banking Center Manager I We invite you to explore the award-winning culture, people, rewards and opportunities that make Comerica Bank so special. Make your next career choice a confident one. The Assistant Banking Center Manager is responsible for contributing to the overall success of a Retail Banking Center by 1) meeting or exceeding sales goals, 2) providing effective leadership, 3) achieving prescribed customer service levels and 4) executing operational management objectives. Position Competencies Successful incumbents possess integrity, are trustworthy, action oriented, well organized, have business acumen, focus on the customer, have high decision quality, direct others, have strong written communication skills, motivate others and promote problem resolution. Comerica Bank uses IBM Lotus Notes for database, calendaring and e-mail functions. Reporting Information/Location This Assistant Banking Center Manager (ABCM I) position is located at 2820 Gessner Road, Houston, TX 77080 and reports to the Banking Center Manager. Position Responsibilities 1. Sales Leadership a. Assist the Retail Banking Center Manager in providing direction and leadership to banking center employees with emphasis on achieving sales goals, remarkable customer service and......

Words: 677 - Pages: 3

Premium Essay

Banking

...analyze the role of information technology (IT) in the Indian banking industry. Indian banks are investing heavily in the technologies such as automated teller machine (ATMs), net banking, mobile banking, tele -banking, credit cards, debit cards, smart cards, call centers, CRM, data warehousing etc. It is essential to evaluate the impact of information technology on the performance of Indian banks in terms of extended value added services and customer satisfaction thereby. Foreign banks and Private sector banks which took more IT initiative, were found to be more efficient and more competent force than public sector banks in India. Based on the article, technological innovations have enabled the industry to open up efficient delivery channels. It is said that IT has helped the banking industry to deal with the challenges the new economy poses. The study examines the views of banking customers on the implementation of IT in banks. According to the author, private and foreign banks use more IT-related banking services than public sector banks. Keywords and Abbreviations: Awareness level, Banking sector, Customer Satisfaction, ITeS, Security ATM – Automated Teller Machines / Any Time Money CBS – Core Banking Solution IAM – Investment and Assets Management CRM – Customer Relationship Management GRC – Governance Risk and Compliance IDRBT - Institute for Development and Research in Banking Technology INFINET - Indian FInancial NETwork......

Words: 318 - Pages: 2

Premium Essay

Banking

...Act, Sec 17 suggests that a fraud means and includes any of the acts by a party to a contract or with his connivance or by his agents with the intention to deceive another party or his agent or to induce him to enter in to a contract. Banking Frauds constitute a considerable percentage of white-collar offences being probed by the police. Unlike ordinary thefts and robberies, the amount misappropriated in these crimes runs into lakhs and crores of rupees. Bank fraud is a federal crime in many countries, defined as planning to obtain property or money from any federally insured financial institution. It is sometimes considered a white collar crime. The number of bank frauds in India is substantial. It in increasing with the passage of time. All the major operational areas in banking represent a good opportunity for fraudsters with growing incidence being reported under deposit, loan and inter-branch accounting transactions, including remittances. Bank fraud is a big business in today’s world. With more educational qualifications, banking becoming impersonal and increase in banking sector have gave rise to this white collar crime. In a survey made till 1997 bank frauds in nationalised banks was of Rs.497.60 crore. This banking fraud can be classified as: • Fraud by insiders • Fraud by others Fraud By Insiders Rogue traders A rogue trader is a highly placed insider nominally authorized to invest sizeable funds on behalf of the bank; this trader secretly......

Words: 3880 - Pages: 16

Premium Essay

Banking

...1. Introduction to banking sector Whenever you think of Banks what comes to your mind? Your salary account, your savings account or if you are a businessman your current account. Maybe you are also thinking about loans you took from a bank – your home loan, your car loan or your personal loan. But, did you ever pause to think how does this industry actually work – What is the structure of the Indian Banking Industry? What is its business model? How does a bank make money? What is its future outlook? Let us demystify it. The Banking industry plays a dynamic role in the economic development of a country. The growth story of an economy depends on the robustness of its banking industry. Banks act as the store as well as the power house of the country’s wealth. They accept deposits from individuals and corporate and lends to the businesses. They use the deposits collected for productive purposes which help in the capital formation in the country. Today, the Indian Banking System is known the world over for its robustness. The Reserve Bank of India is the central/apex Bank which regulates the functioning of all banks operating within the country. The banking system, largely, comprises of scheduled banks (banks that are listed under the Second Schedule of the RBI Act, 1934). Unscheduled banks form a very small component (function in the form of Local Area Bank). Scheduled banks are further classified into commercial and cooperative banks, with the basic difference in their......

Words: 602 - Pages: 3